Theo công bố từ Bộ Y tế, hiện có 10 tỉnh, thành phố của cả nước có mức sinh thấp hơn mức sinh trung bình là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Đồng Nai, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh. Trong đó, có đến 5 tỉnh, thành ở miền Tây Nam Bộ.
Không còn những “Út Mười”, “Út Mót”!
Miền Tây Nam Bộ vốn nổi tiếng với hình ảnh những gia đình đông con, nhà nào cũng có năm bảy đứa trẻ chạy nhảy quanh sân. Nhưng đó là câu chuyện của vài thập kỷ trước.
Bây giờ, bức tranh đời sống đã mang một màu sắc hoàn toàn khác.
Cục Dân số dự báo nếu mức sinh duy trì thấp, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng vào năm 2036 và bắt đầu tăng trưởng dân số âm từ năm 2051 (Ảnh: Hoàng Xuân)
Người miền Tây Nam Bộ xưa sống thuận theo tự nhiên với quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ”, nhà nào con cháu đầy đàn được coi là có phúc, có lộc. Thời đó, người ta chưa có những tính toán chi ly về chi phí sinh hoạt hay áp lực đưa đón học hành.
Những gia đình đông đúc tạo nên nét văn hóa xưng hô rất riêng. Không ít gia đình có mười mấy người con, khi số lượng con quá nhiều, thứ tự danh xưng không còn dừng lại từ “Bé Hai” đến “Út Mười”, mà kéo dài thành những “Út Mót”, “Út Ráng”, “Út Thêm”...
Những cái tên vừa ngộ nghĩnh, vừa chất phác ấy ghi lại từng lần “vỡ kế hoạch” nhưng tràn đầy tình thương của cha mẹ.
Trong những ngôi nhà đông con, căn bếp luôn đỏ lửa và mâm cơm lúc nào cũng rộn rã tiếng nói cười, tranh giành nhau từng con cá kho, bát canh rau tập tàng.
Đứa lớn bế đứa nhỏ, anh chị nhường cơm sẻ áo cho em, tình thân cứ thế thắt chặt qua những ngày gian khó. Đôi khi bữa ăn chỉ có mắm quẹt, rau đồng, nhưng tình người và hơi ấm gia đình lúc nào cũng đong đầy.
Cần Thơ là một trong 10 tỉnh, thành phố của cả nước có mức sinh thấp hơn mức sinh trung bình (Ảnh: Hoàng Xuân).
Ngày nay, khi nhịp sống hiện đại kéo theo những lo toan cơm áo, hình ảnh những “Út Mười”, “Út Mót” trong gia đình dần thưa vắng và dường như không còn.
Nhưng mỗi khi nhắc lại, người miền Tây Nam Bộ vẫn không khỏi bồi hồi nhớ về một thời nếp nhà luôn rộn rã tiếng cười trẻ thơ, tràn ngập tình làng nghĩa xóm.
Áp lực kinh tế, học hành
Vừa tan ca, chị Nguyễn Thị Mai (31 tuổi; nhân viên kế toán một công ty thủy sản ở Cà Mau) vội khoác chiếc áo mưa, dắt chiếc xe máy ra khỏi cổng công ty khi kim đồng hồ vừa điểm 17h. Mưa bắt đầu nặng hạt. Vừa vặn ga xe, chị vừa thấp thỏm lo sợ không kịp đón đứa con trai duy nhất ở trường mầm non đúng giờ.
Chồng chị Mai làm tài xế xe tải đường dài, vài ngày mới về nhà một lần. Mọi việc trong nhà, từ nấu ăn, giặt giũ đến đưa đón đứa con trai 4 tuổi đi học đều đổ dồn lên vai chị.
Khi được hỏi về kế hoạch sinh thêm đứa nữa để có anh có em, chị lắc đầu ngay lập tức, nụ cười thoáng chút mệt mỏi: “Trời ơi, một đứa thôi mà vợ chồng tôi lo đuối lắm rồi, sinh thêm đứa nữa chắc không thở nổi!”.
Chuyện của chị Mai không phải là trường hợp hiếm hoi. Dọc theo những dải đất phù sa ở miền Tây Nam Bộ, một làn sóng ngầm đang diễn ra rõ rệt: Người dân miền Tây ngày càng ngại sinh con.
Anh Trần Văn Minh (34 tuổi; ngụ TP. Cần Thơ), hiện là nhân viên giao hàng, chia sẻ thẳng thắn về bài toán kinh tế khi làm cha: “Nói thiệt, hồi xưa ba má mình chỉ có vài công đất vẫn nuôi dạy tốt 5-6 đứa con.
Bởi cuộc sống khi đó khá đơn giản, có lúa trong bồ, cá dưới sông, rau ngoài đồng là đủ. Giờ nuôi một đứa trẻ nó khác hoàn toàn. Tiền sữa, tiền tã, tiền học phí, tiền đồ chơi... Tháng nào vợ chồng thu nhập gộp lại chừng 15 triệu đồng là coi như xài vừa đủ, không dư được bao nhiêu. Sinh thêm đứa nữa là cán cân tài chính gãy ngay”.
Không chỉ là vấn đề tiền bạc, áp lực đưa rước và thời gian chăm sóc con cái cũng là rào cản lớn đối với các cặp vợ chồng trẻ muốn sinh thêm con.
Với nhịp sống công nghiệp hiện đại, các khu công nghiệp, công ty, văn phòng mọc lên khắp miền Tây Nam Bộ. Người trẻ đi làm theo giờ hành chính hoặc ca kíp.
Trong khi đó, hệ thống trường học công lập thường tan học trước giờ tan sở khoảng vài mươi phút. Việc thu xếp thời gian để đón con trở thành cuộc chiến căng thẳng mỗi ngày đối với những cặp vợ chồng không có người thân hỗ trợ.
“Nhiều hôm công ty họp đột xuất hay hàng về nhiều phải tăng ca, tui vỡ khóc vỡ cười vì không biết nhờ ai đi đón con. Thuê người đón thì tốn tiền mà không yên tâm. Cứ nghĩ tới cảnh lặp lại điều đó với đứa thứ hai là tui rùng mình”, chị Mai tâm sự.
Tư tưởng cởi mở, phóng khoáng
So với nhiều vùng miền khác, nơi mà tư tưởng phải có con trai để nối dõi tông đường, đủ nếp đủ tẻ vẫn còn ảnh hưởng khá sâu sắc trong nhiều gia đình, thì người miền Tây ngày nay lại có góc nhìn cởi mở và phóng khoáng hơn rất nhiều. Họ không quá câu nệ lễ nghi gia tộc, khiến áp lực phải sinh bằng được con trai hay nhiều hơn 1 con ở miền Tây Nam Bộ dường như không còn.
Chị Lê Thị Bích Tuyền (29 tuổi, ngụ tỉnh An Giang) hiện chỉ có một bé gái 3 tuổi, cho biết gia đình bên nội lẫn bên ngoại đều không hề ép buộc chị phải sinh thêm con trai.
“Ở đây ông bà dễ lắm, cháu nào cũng là cháu, trai hay gái đều thương như nhau. Mẹ chồng tôi còn bảo nuôi một đứa cho đàng hoàng, tử tế, học hành đến nơi đến chốn còn hơn sinh đông rồi bỏ nheo nhóc. Thấy ông bà suy nghĩ cởi mở vậy tôi cũng rất mừng, không bị áp lực dư luận hay họ hàng ép buộc phải sinh thêm”, chị Tuyền bộc bạch.
Chính tư tưởng cởi mở là một trong những lý do khiến các cặp vợ chồng miền Tây yên tâm dừng lại ở một con. Họ không phải chịu gánh nặng cố thêm đứa nữa chỉ để tìm kiếm một mụn con trai nối dõi. Đối với họ, chất lượng sống của đứa trẻ và hạnh phúc của gia đình mới là điều quan trọng nhất.
Một yếu tố khác khiến tỷ lệ sinh ở miền Tây giảm sâu trong những năm gần đây là sự thay đổi trong quan niệm sống của thế hệ trẻ.
Giới trẻ miền Tây ngày nay xem trọng việc phát triển bản thân, tự do cá nhân và trải nghiệm cuộc sống. Họ không còn xem việc lập gia đình và sinh con là sứ mệnh tất yếu của đời người.
Nhiều cặp vợ chồng trẻ còn chọn hoãn sinh con vài năm sau khi kết hôn để tập trung cho sự nghiệp, tích lũy tài chính hoặc đi du lịch. Đến khi kinh tế ổn định thì tuổi tác đã lớn, hoặc họ đã quen với nhịp sống tự do nên chỉ muốn sinh một con, thậm chí là không có con.
Bên cạnh đó, những lo ngại về biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sự chuyển dịch kinh tế ở miền Tây khiến nhiều người trẻ trăn trở về tương lai của con cái mình. Họ lo sợ không đủ khả năng tạo ra một môi trường sống tốt nhất cho con trong một thế giới đầy biến động.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp điều chỉnh mức sinh
Bộ Y tế vừa phối hợp với UBND tỉnh Cà Mau tổ chức hội thảo chuyên đề về mức sinh, nâng cao chất lượng dân số và thích ứng với già hoá dân số.
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên phát biểu tại hội thảo (Ảnh: Cà Mau Online)
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho biết, công tác dân số Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức như mức sinh thấp, già hóa dân số và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tỷ suất sinh của nước ta đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế (chưa đạt mục tiêu 2,1 con/phụ nữ); tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn ở mức cao, trung bình 110 bé trai/100 bé gái; cùng với đó là tốc độ già hoá dân số diễn ra nhanh chóng.
“Vấn đề mức sinh thấp, mất cân bằng giới tính khi sinh và tốc độ già hóa dân số nhanh đang là bài toán đặt ra cho toàn xã hội, không chỉ riêng ngành y tế”, Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh.
Tại hội thảo, GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, đã chỉ ra những rào cản khiến tỷ suất sinh giảm mạnh trong thời gian qua, như: việc các biện pháp tránh thai ngày càng dễ tiếp cận; áp lực kinh tế đối với các cặp vợ chồng trẻ trong việc nuôi dạy con ngày càng lớn; quỹ thời gian dành cho gia đình bị thu hẹp…
Ông Ngô Vũ Thăng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, chia sẻ tại hội thảo (Ảnh: Cà Mau Online)
Ông Ngô Vũ Thăng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau khẳng định, tỉnh luôn quan tâm công tác dân số, coi đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương.
Do đó, ông Ngô Vũ Thăng đề nghị các sở, ngành, địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả Luật Dân số, thực hiện đồng bộ các giải pháp điều chỉnh mức sinh.
Bên cạnh đó, cần mở rộng tư vấn, khám sức khỏe trước kết hôn, sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Đồng thời, tăng cường đầu tư nguồn lực, kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện cơ sở dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân số.
Theo Cục Dân số (Bộ Y tế), Việt Nam đạt mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ) từ năm 2006 và duy trì đến năm 2021. Tuy nhiên, mức sinh đã giảm xuống còn 1,93 con/phụ nữ vào năm 2025, thấp hơn mức sinh thay thế. Xu hướng kết hôn muộn, sinh ít con và già hóa dân số đang khiến cơ cấu dân số thay đổi nhanh chóng.
Cục Dân số dự báo nếu mức sinh duy trì thấp, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng vào năm 2036 và bắt đầu tăng trưởng dân số âm từ năm 2051.
Theo Báo Dân Trí