
Cán bộ, nhân viên Nông trường 414 và người dân trồng lại những diện tích rừng vừa khai thác.
Tình người nơi đất mặn
Ngồi vỏ lãi (một loại phương tiện đường thủy theo cách gọi của người dân phương Nam) trên đường đến thăm những hộ dân đang sinh sống ở nông trường, Thiếu tá Trần Văn Hiến, Phó Giám đốc Nông trường 414 nói rằng không dám điện thoại cho ai hay trước, bởi nếu biết mình đến là họ chuẩn bị “mồi” nhậu liền, sẽ khó mà từ chối.
Đúng thật! Vừa cặp vỏ lãi vào bến, chúng tôi chưa kịp bước lên đã nghe tiếng chủ nhà - anh Nguyễn Văn Hoạt kêu vợ: “Em ơi coi làm mớ tôm với mấy con cua đãi khách quí ghé thăm nè!”. “Hôm qua nay xổ tôm khá không anh?”, tôi hỏi. “Cũng tàm tạm, có vài chục ký hà”, anh Hoạt cười xoà trả lời.
Biết chúng tôi không phải dân vùng này nên anh giải thích: “Mỗi tháng có hai con nước để xổ tôm. Con nước “cái” là vào thời điểm rằm giữa tháng, không bằng con nước “đực” cuối tháng, lúc đó tôm “chạy” nhiều hơn”. Anh cũng cho hay hiện gia đình đang nhận giữ 7 ha rừng đước, trong đó có 3 ha mặt nước nuôi tôm. “Nếu năm nào khá thì cũng hơn 200 triệu, còn bình thường thì hơn trăm rưỡi triệu”, anh Hoạt nói. Chúng tôi nhẩm tính, nếu vậy thì mỗi tháng gia đình anh cũng kiếm trên dưới 15 triệu đồng từ thu hoạch tôm.
Sống ở nơi được xem là vùng sâu, thế nhưng trong nhà anh Hoạt có đủ cả - ti-vi sử dụng đầu thu K+, tủ lạnh, máy tính, quạt máy, bếp ga… Anh Hoạt cho biết, lúc về nông trường chỉ hai bàn tay trắng, đến bây giờ thì đứa con lớn của anh đã ra trường đi làm, hai đứa kế thì đang học ở Năm Căn. “Đều nhờ vào con tôm hết, nếu không thì sao nuôi nổi mấy đứa nhỏ”, anh Hoạt cười giòn giã, rồi nắm chặc tay Thiếu tá Trần Văn Hiến.
Anh nói tiếp: “Thú thật, nhờ có anh em Nông trường giúp đỡ, cuộc sống của gia đình tôi mới được như bây giờ. Từ Nam Định vô đây một thân một mình có quen biết ai đâu, bơi xuồng còn chưa rành nói chi đến chuyện giữ rừng, nuôi tôm. Rồi đến cách nạo vét, vệ sinh vuông thế nào, thả nuôi, chăm sóc, phát hiện và chữa bệnh cho tôm ra sao, cũng mấy anh em hướng dẫn hết. Các anh xem tụi tui như người thân trong gia đình vậy”.
Thiếu tá Trần Văn Hiến tiếp lời: “Mình gắn bó, giúp bà con làm ăn, họ cũng giúp nông trường chăm sóc, bảo vệ rừng. Chính vì vậy, hàng năm diện tích rừng của nông trường tăng trên dưới 15 ha do người dân tự trồng, dự kiến đến năm 2020 sẽ đạt trên 1.000 ha rừng. Điều đáng nói là ý thức người dân rất cao, rừng ở đây chưa hề bị khai thác trộm bao giờ”.
Nặng tình với đất, đất trả ơn người
Kể lại những ngày mới về nông trường, Thiếu tá Trần Văn Hiến bảo rằng, không biết bao nhiêu công sức của bộ đội đã bỏ ra mới có được như hôm nay. Nông trường thành lập năm 1982 đến năm 1991 anh Hiến mới về đây, nhưng cuộc sống lúc ấy còn khó khăn trăm bề. Nhà cửa cũng chỉ tạm bợ - cột nhà làm bằng cây đước mái lợp lá, giường nằm đóng bằng tre; việc đi lại thì “đò giang, cách trở”. “Ngày thì bang đất, xẻ mương, đêm đến tranh thủ lúc thuỷ triều xuống, anh em đốt đèn măng-sông để đặt các đường ống cống dẫn nước vào. Muỗi đốt sưng mình mẩy hết, vậy nhưng anh em vẫn an tâm thực hiện nhiệm vụ”, anh Hiến kể.
Đến khi đưa người dân vào ở kết hợp giữ rừng và khai thác thuỷ sản thì các diện tích rừng và vuông của nông trường đã cơ bản hoàn thành trên 70%, chỉ cần vệ sinh, vét mùng đáy là có thể thả tôm nuôi. Trên đường đi, Thiếu tá Trần Văn Hiến cho biết, nông trường có tổng diện tích hơn 2.000 ha, trong đó có gần 900 ha rừng đước ngập mặn nằm trên địa bàn 2 xã: Tân Ân Tây và Tam Giang Tây (huyện Ngọc Hiển).
Hiện nay có trên 220 hộ dân hợp đồng với nông trường chăm sóc rừng và nuôi tôm quản canh. Hộ nhận nhiều nhất trên 10 ha, ít nhất cũng khoảng 3 ha. Theo hợp đồng, một năm mỗi hộ sẽ được hỗ trợ 100.000 đồng/ha rừng và 300.000 đồng/ha nuôi tôm. Khi khai thác rừng sẽ được chia theo tỷ lệ 7/3. Nuôi tôm quản canh ở nông trường người dân rất yên tâm, bởi năm nào “bèo” lắm cũng huề vốn chứ không lỗ, vì cả mùa vụ chỉ mất tiền con giống chứ không còn khoản chi nào đáng kể.
Dân và quân cùng thu hoạch tôm
Đến nay các hộ dân trong nông trường cơ bản đã thoát nghèo, trong đó có nhiều hộ vươn lên khá giả”, anh Hiến chia sẻ. Và để chứng minh cho điều mình nói, anh đưa chúng tôi đến thăm gia đình ông Trương Văn Tỉ - người đầu tiên xây nhà kiên cố ở đây. Ông Tỉ có thời gian “bám rừng” gần 20 năm. “Lúc đầu khổ lắm. Nhưng được các anh em nông trường động viên, giúp đỡ tận tình cả về con giống cũng như kỹ thuật nuôi tôm; còn rừng đước thì mình bỏ công coi sóc, đến khi thu hoạch cũng được chia một phần”, ông Tỉ cho biết.
Với hơn 10 ha rừng, trong đó có gần 6 ha mặt nước nuôi tôm, cho thu nhập bình quân mỗi năm trên dưới 250 triệu đồng. Cuộc sống gia đình ông Tỉ giờ đã khấm khá, con cái được học hành đến nơi đến chốn. Trước khi chúng tôi ra về, ông Tỉ còn khoe mình vừa mua được một miếng đất ở trung tâm thành phố Cà Mau để sau này cất nhà cho các con ở ngoài đó.
Ghé nhà chú Nguyễn Trung Trực chúng tôi không khỏi giật mình. Tuy mới chuyển về đây ở chưa đầy một năm, nhưng chú đã “mạnh tay” xây căn nhà hơn 120 triệu. Chú Trực nói: “Người ta bảo “an cư” thì mới “lạc nghiệp”. Ở đây điện, nước sinh hoạt, trạm xá, trường học (bậc tiểu học) đều đảm bảo; điều kiện làm ăn thuận lợi, mà còn được sự giúp đỡ tận tình của anh em bộ đội nông trường nên tui thấy rất yên tâm”.
Những cánh rừng đước mênh mông trong vùng ngập mặn giờ đã trở nên ngọt lành với người dân nơi đây. Tất cả được bắt nguồn từ công sức của những người lính Nông trường 414 cùng với sự đồng lòng của người dân trong việc gìn giữ và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên rừng để có cuộc sống đủ đầy như hôm nay.
Theo THẾ HIỂN (Đảng Cộng sản Việt Nam)